Phạm Công Lâm - 25/05/17

Kiến nghị về việc: Xin hỏi Bộ trưởng, Chủ nhiệm VP Chính phủ Mai Tiến Dũng đối tượng nào được hưởng thu hút Điều 8 Nghị định 61/2006/NĐ-CP

placeholder image

Nội dung kiến nghị:

Bảy Ngàn, ngày 04 tháng 04 năm 2017 Kính gửi: - Ông Mai Tiến Dũng Bộ trưởng, Chủ nhiệm VP Chính phủ. Tôi tên: Phạm Công Lâm, sinh năm 1966 Hiện đang công tác tại trường tiểu học Nguyễn Trung Trực, thị trấn Bảy Ngàn (xã Tân Hòa cũ), huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Nay tôi viết thư này gửi đến Mai Tiến Dũng sự việc sau: Vào tháng 11 năm 1996 tôi được Ban Tổ Chức Chính Quyền tỉnh Cần Thơ do ông Đặng Minh Trực ký, được tuyển dụng về công tác tại trường tiểu học Tân Hòa 2, xã Tân Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ để giảng dạy. Trong thời gian đó hộ khẩu của tôi ở Cần Thơ đến năm 1999 tôi mới được chuyển hộ khẩu về ấp 3A, xã Tân Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang công tác giảng dạy cho đến nay ( nay là trường tiểu học Nguyễn Trung Trực, ấp 4A, thị trấn Bảy Ngàn, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang). Đơn vị tôi được Chính phủ và Bộ trưởng Chủ nhiệm UBDT được phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn đầu tư của chương trình 135 giai đoạn II (xã khu vực II), tại Quyết định số 01/2008/UBNDT và Nghị định 61/2006/NĐ-CP. Như vậy: Căn cứ theo Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2006 về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, và Thông tư số 06/2007/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC ngày 27/3/2007. Căn cứ Quyết định số 01/2008/QĐ-UBDT ngày 11 tháng 01 năm 2008 về việc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn thuộc xã khu vực II vào diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn II. Trong đó có huyện Châu Thành A gồm: xã Tân Hòa (nay là thị trấn Bảy Ngàn) ấp thị tứ; 4A; 4B; thị trấn Cái Tắc; Trường Long A". Căn cứ Quyết định 582/QĐ-UBDT ngày 18 tháng 12 năm 2013 phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi vào diện đầu tư của Chương trình 135. Kính thưa Mai Tiến Dũng, tôi được Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Hậu Giang có mời trao đổi về Nghị định 61/2006/NĐ-CP và Thông tư số 06/2007/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC ngày 27/3/2007. kêu tôi chờ đợi Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ trả lời đối tượng được hưởng tại Điều 8 chương III Nghị định 61/2006/NĐ-CP và Thông tư số 06/2007/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC ngày 27/3/2007. Vào ngày 17/3/2017 nhận được công văn số 294/NGCBQLGD-NG ngày 13/2017 do ông Trần Kim Tự phó cục trưởng ký tên đóng dấu. Đến ngày 26/3/2017 nhận được công văn số 259/SGDĐT-TCCB ngày 24/3/2017 do bà Nguyễn Hoài Thúy Hằng ký tên đóng dấu. Sau khi được Sở GD&ĐT tỉnh Hậu Giang và Phòng GD&ĐT huyện Châu Thành A kêu tôi chờ đợi trả lời của các Bộ, tôi rất đau lòng và buồn vì Nghị định 61/2006/NĐ-CP và Quyết định số 01/2008/QĐ-UBDT có hiệu lực đến nay gần 10 năm mà chưa triển khai thực hiện cho nhà giáo và CBQL giáo dục công tác tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà cứ kêu chờ hoài đến bao giờ? Tôi thiết nghĩ đúng ra khi Nghị định và Quyết định có hiệu lực thì triển khai thực hiện mới có ý nghĩa và nhân văn của Chính phủ chiếu cố đến vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì thời điểm lúc bấy giờ mức lương cơ sở rất thấp, thậm chí có một số giáo viên bỏ việc đi tìm việc khác. Kính thưa Mai Tiến Dũng. cho tôi biết, tôi có được hưởng chế độ chính sách theo Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2006 về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tại Điều 8 khoản 1 Chương III không? Vì từ khi Nghị định số 61/2006 có hiệu lực đến nay, đơn vị trường tôi chưa được hưởng theo quy định. Rất mong Mai Tiến Dũng xem xét và sớm trả lời cho tôi được biết, xin chân thành cảm ơn. Đồng thời tôi gửi hết tâm tư nguyện của mình đến Mai Tiến Dũng. Người viết thư Phạm Công Lâm


File đính kèm:

Đánh giá sự hài lòng của người dân

Ý kiến đánh giá khác

Chữ để nhận dạng
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.